Ngoài giá trị kinh tế, cây ớt còn là cây thuốc có công dụng
chữa bệnh. Sau đây là một số bài thuốc được lương y Lê Ngọc Vân (Ninh
Thuận) sưu tầm trong dân gian, chữa trị một số bệnh rất hiệu quả.
Bị trúng phong miệng cứng, lấy một nắm lá ớt chỉ
thiên (loại ớt trái nhỏ, trái mọc ngược quay lên trời) thêm một ít nước
và muối ăn giã nhuyễn, vắt lấy nước nhỏ vào miệng, xác lá chà mạnh vào
chân răng, người bệnh sẽ tỉnh lại. Chữa rắn rết cắn: lá ớt giã nhỏ đắp
vào vết thương, có tác dụng hút độc, đắp cho đến khi đưa đến bệnh viện
điều trị. Chữa bệnh vẩy nến: cạo một chén vỏ cây tre có thân màu vàng,
một nắm lá ớt sao chín, 7 – 10 lá sống đời, thiên niên kiện 300 gam (có
bán ở tiệm thuốc Đông y), cho cả bốn vị vào ấm, đổ 2,5 lít nước, nấu đậm
uống thay nước hằng ngày, uống liên tục trong 5 ngày, bệnh thuyên giảm,
hết vẩy nến. Chữa bệnh chàm: một nắm lá ớt tươi, một muỗng mẻ chua (mẻ ủ
bằng cơm nguội dùng để nấu ăn) giã nhỏ, gói trong vải thưa, đắp lên vết
chàm đã rửa sạch bằng nước muối, giữ trong 12 giờ. Mỗi ngày đắp một
lần, liên tục trong 10 ngày sẽ lành bệnh. Rễ cây ớt, cây chanh, cây
xuyên tiêu (có bán ở tiệm thuốc Đông y), mỗi thứ 15 gam, cho vào ấm, đổ
hai chén nước, sắc còn nửa chén, ngày uống một lần, liên tục trong một
tuần sẽ chữa được chứng đau bụng kinh niên do rối loạn đại tràng chức
năng. Theo y học cổ truyền, trái ớt có vị cay, tính nóng, có công dụng
trừ hàn, mạnh tỳ vị, giải độc, tiêu viêm, kích thích tiêu hóa, dùng chữa
các chứng lạnh bụng, cảm lạnh, đau nhức ngoài da, viêm nấm, kém ăn…
Những người hay bị đau lưng, đau khớp, mua 15 trái ớt chín, vài lá đu
đủ, lá ngải cứu, giã nhỏ, sau đó đem ngâm rượu nồng độ cao, xoa bóp
thường xuyên vào chỗ đau nhức sẽ thuyên giảm được chứng bệnh.
Đặc Sản Cây Thuốc
Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014
Bài thuốc dùng quả lựu chữa bệnh
Cây lựu còn có tên: thạch lựu, thừu lựu. Tên khoa học: Punica
Gracinatum L. Họ lựu Punicaceae. Ở Việt Nam, cây lựu được trồng nhiều để
lấy quả ăn, làm thuốc và làm cảnh, về phương diện chữa bênh, tất cả các
bộ phận của cây lựu đều có thể dùng làm thuốc chữa bệnh.
Từ xưa quả lựu được ca tụng về cả 2 phương diện dinh dưỡng và trị liệu. Thành phần hóa học: dịch quả chứa acid citric, ac.malie, các đường glucoza, fructoza, mantoza…Vỏ quả và vỏ rễ chứa nhiều tanin, granatin, hoạt chất peletierin, izopeletierin, ac.betulic, ac.usolic và iso quercetin. Nước ép lựu là nguồn kali, vitamin C và các chất chống ôxy hoá quý. Theo Đông y vỏ quả vị chua, chát, tính ấm, chỉ tả, chỉ huyết, khử trùng. Vỏ thân, vỏ rễ vị đắng chát, tính ấm, sát trùng. Vỏ thân rễ dùng tẩy sán.
Một số cách dùng quả lựu chữa bệnh:
- Lao phổi, viêm phế quản mạn tính ở người già: quả lựu tươi chưa chín 1 quả, bóc lấy hạt ăn vào buổi tối trước khi đi ngủ.
- Trẻ em có tích trệ ăn không tiêu, có ký sinh trùng đường ruột dùng nước ép hạt lựu thêm đường và nước cho uống. Tuy hiệu quả kém nhưng an toàn hơn vỏ rễ lựu.
- Phòng chữa cam tích ở trẻ em
(Thực tích, thực trệ, tiêu chảy…): lấy quả lựu muối nấu cháo cho trẻ ăn.
Quả lựu muối làm như sau: hái quả lựu chín tốt nhất là những quả chín nứt vỏ, cho vào thố (vại, lọ…), rắc muối, đậy kín đem phơi nắng, mỗi ngày trở vài lần. Một thời gian vỏ lựu mềm, nước từ trong quả lựu thoát ra ngoài hoà lẫn nước muối. Tiếp tục làm như vậy cho đến khi khô nước thì lấy lựu ra cất vào hũ. Cất càng lâu công hiệu càng cao.
- Thanh thử, giải nhiệt, ngừa ra nhiều mồ hôi vào mùa hè – nấu canh cho một số hạt lựu tươi. Canh này còn phòng chữa chứng đau đầu ở phụ nữ và giúp trẻ em tiêu hoá tốt.
- Thực tích (do ăn nhiều thịt) khó tiêu, trĩ và ra máu, phụ nữ bạch đới, kinh nguyệt quá nhiều: dùng quả lựu muối nấu với canh thịt heo ăn.
- Viêm loét trong miệng: lựu tươi 1-2 quả, lấy hạt giã nát, ngâm vào nước sôi rồi lọc lấy nước để nguội ngậm nhiều lần trong ngày.
- Tiêu hoá kém, đau bụng, tiêu chảy: lựu 2-3 quả bỏ vỏ lấy cùi với một bát rưỡi nước sắc lấy nửa bát rồi đổ vào một ít mật ong, uống làm 2-3 lần trong ngày.
- Đại tiện ra máu, tiêu chảy kéo dài: ruột quả lựu sấy khô, tán bột. Mỗi lần 10-12g với nước cơm. Hoặc 1 quả lựu tươi nguyên vỏ giã nát sắc với mấy hạt muối để uống.
- Sâu răng: vỏ thân cây lựu hoặc vỏ quả sắc đặc ngậm nghiêng về phía răng sâu.
- Khô miệng, viêm họng, loét lưỡi: bóc lấy hạt của 1-2 quả lựu tươi nhai chậm kỹ nuốt nước.
- Trĩ loét chảy máu: vỏ quả lựu 50 – 100g sắc lấy nước xông rửa hậu môn.
- Nước ngâm rửa khi bị đới hạ, khí hư: vỏ quả lựu 30g, phèn chua 10g sắc lấy nước ngâm rửa.
- Ghẻ ngứa: vỏ quả lựu sắc để ngâm, tán bôi lên chỗ tổn thương – có thể ngâm vào rượu hoặc cồn để dùng hoặc lá lựu tươi giã nhuyễn xoa xát.
Kiêng kỵ: – Lựu và bưởi chùm có tương tác với một số thuốc dùng trong điều trị tăng huyết áp (nitatin). Do đó nếu dùng phải thận trọng và cần tham khảo ý kiến thầy thuốc chuyên khoa.
- Không dùng lựu cùng củ cải.
Từ xưa quả lựu được ca tụng về cả 2 phương diện dinh dưỡng và trị liệu. Thành phần hóa học: dịch quả chứa acid citric, ac.malie, các đường glucoza, fructoza, mantoza…Vỏ quả và vỏ rễ chứa nhiều tanin, granatin, hoạt chất peletierin, izopeletierin, ac.betulic, ac.usolic và iso quercetin. Nước ép lựu là nguồn kali, vitamin C và các chất chống ôxy hoá quý. Theo Đông y vỏ quả vị chua, chát, tính ấm, chỉ tả, chỉ huyết, khử trùng. Vỏ thân, vỏ rễ vị đắng chát, tính ấm, sát trùng. Vỏ thân rễ dùng tẩy sán.
Một số cách dùng quả lựu chữa bệnh:
- Lao phổi, viêm phế quản mạn tính ở người già: quả lựu tươi chưa chín 1 quả, bóc lấy hạt ăn vào buổi tối trước khi đi ngủ.
- Trẻ em có tích trệ ăn không tiêu, có ký sinh trùng đường ruột dùng nước ép hạt lựu thêm đường và nước cho uống. Tuy hiệu quả kém nhưng an toàn hơn vỏ rễ lựu.
- Phòng chữa cam tích ở trẻ em
(Thực tích, thực trệ, tiêu chảy…): lấy quả lựu muối nấu cháo cho trẻ ăn.
Quả lựu muối làm như sau: hái quả lựu chín tốt nhất là những quả chín nứt vỏ, cho vào thố (vại, lọ…), rắc muối, đậy kín đem phơi nắng, mỗi ngày trở vài lần. Một thời gian vỏ lựu mềm, nước từ trong quả lựu thoát ra ngoài hoà lẫn nước muối. Tiếp tục làm như vậy cho đến khi khô nước thì lấy lựu ra cất vào hũ. Cất càng lâu công hiệu càng cao.
- Thanh thử, giải nhiệt, ngừa ra nhiều mồ hôi vào mùa hè – nấu canh cho một số hạt lựu tươi. Canh này còn phòng chữa chứng đau đầu ở phụ nữ và giúp trẻ em tiêu hoá tốt.
- Thực tích (do ăn nhiều thịt) khó tiêu, trĩ và ra máu, phụ nữ bạch đới, kinh nguyệt quá nhiều: dùng quả lựu muối nấu với canh thịt heo ăn.
- Viêm loét trong miệng: lựu tươi 1-2 quả, lấy hạt giã nát, ngâm vào nước sôi rồi lọc lấy nước để nguội ngậm nhiều lần trong ngày.
- Tiêu hoá kém, đau bụng, tiêu chảy: lựu 2-3 quả bỏ vỏ lấy cùi với một bát rưỡi nước sắc lấy nửa bát rồi đổ vào một ít mật ong, uống làm 2-3 lần trong ngày.
- Đại tiện ra máu, tiêu chảy kéo dài: ruột quả lựu sấy khô, tán bột. Mỗi lần 10-12g với nước cơm. Hoặc 1 quả lựu tươi nguyên vỏ giã nát sắc với mấy hạt muối để uống.
- Sâu răng: vỏ thân cây lựu hoặc vỏ quả sắc đặc ngậm nghiêng về phía răng sâu.
- Khô miệng, viêm họng, loét lưỡi: bóc lấy hạt của 1-2 quả lựu tươi nhai chậm kỹ nuốt nước.
- Trĩ loét chảy máu: vỏ quả lựu 50 – 100g sắc lấy nước xông rửa hậu môn.
- Nước ngâm rửa khi bị đới hạ, khí hư: vỏ quả lựu 30g, phèn chua 10g sắc lấy nước ngâm rửa.
- Ghẻ ngứa: vỏ quả lựu sắc để ngâm, tán bôi lên chỗ tổn thương – có thể ngâm vào rượu hoặc cồn để dùng hoặc lá lựu tươi giã nhuyễn xoa xát.
Kiêng kỵ: – Lựu và bưởi chùm có tương tác với một số thuốc dùng trong điều trị tăng huyết áp (nitatin). Do đó nếu dùng phải thận trọng và cần tham khảo ý kiến thầy thuốc chuyên khoa.
- Không dùng lựu cùng củ cải.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)